Sunday, 16 April 2017

Ở Torcello thèm nghe vọng cổ






Nói thế nào nhỉ? Dấu vết của hiện tại, của thế kỷ 21 vẫn đầy ra đó nhưng cảnh quang làm cho người ta có cảm giác đang tuột về hàng bao thế kỷ trước. Chẳng cần nhìn đâu xa, vừa bước lên bờ nhìn sang dòng nước bên cạnh đã thấy vẻ xưa cũ in trong đó.

Thời gian chỉ vừa đủ để tôi đi một vòng trên đảo Torcello, từ con kênh lớn có bến tàu đến cuối dãy đất là con kênh nhỏ buồn thiu; cây cầu ngắn bằng hai miếng gỗ, năm sáu cây cột để buộc dây thuyền và cái màu chiều nhờ nhờ bên kia bờ, cái bóng lưng của anh chèo thuyền ám ảnh dễ sợ. Đứng trên bờ nhìn xa xa thèm nghe vọng cổ gì đâu. Lúc đó mà nghe Út Trà Ôn cất giọng “ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh ngã bảy, sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra chào..” chắc buồn đứt ruột.



Có lẽ vui nhất trên đảo là những gốc cây ăn trái. Tụi nó xanh um, trái lặc lè. Táo, nho, lê, lựu.. Những trái lựu vừa chín đỏ mời gọi; có một cây ở ngay bến tàu chào đón khách, thêm vài cây to ngay trước quán nước duy nhất trên đảo. Quán trang trí đơn giản, bàn ghế gỗ, bên hông có thêm giàn nho. Mấy cánh cửa sổ màu xanh trên gác mở toang, chồm ra gặp ngay hai chậu hoa nở đầy. Đoán chủ nhân chắc dân ở đây.



Người sống trên đảo chỉ còn mười một. Vì thế dấu chân phần nhiều là của du khách và nhân viên sáng đến chiều đi để lại. Đảo Torcello nằm ở phía Bắc của Venice. Nhìn cảnh hiện tại ai ngờ nơi đây từng phồn thịnh và đông dân hơn cả Venice.  Người đông mà đầm lầy cũng nhiều và chung quanh là nước nên muỗi cũng vô số. Khi dịch sốt rét lan tràn vào thế kỷ 12, họ tản đi dần hết.

Khi bước lên tàu tôi nghĩ Murano với Burano có ngày tôi trở lại nhưng Torcello chắc không dám. Ánh mắt là lạ không biết diễn tả làm sao của ông già ngồi bán đồ lưu niệm trước nhà thờ Santa Maria Assunta đã theo tôi gần cả tháng sau đó. Nói đây là hòn đảo dành để viết và quay phim kinh dị tôi không thấy lạ chút nào. Đây cũng là nơi duy nhất trong nhiều năm qua làm tôi nghĩ tới vọng cổ và thèm nghe lại.

Sunday, 2 April 2017

Những chùm gai ở Eze







Eze là một trạm dừng không định trước. Đơn giản vì thời gian hạn hẹp. Dành cho miền Nam nước Pháp chỉ có ba ngày hai đêm, định ở Nice rồi qua Monaco trong ngày về. Tham lam và tò mò không phải bệnh lây nhiễm mà ai cũng mắc phải. Thế nên có thêm Eze chen vào. Lỗi do chị chủ nhà ở Paris. Năm giờ sáng tờ mờ, gió đầy phố, chị tiễn bọn tôi trước nhà. Khi quay vào trước khi đóng cửa còn thòng thêm một câu “Ghé làng Eze đi, không đẹp sau này qua ở chị không lấy tiền”.

Làng Eze ở đâu? Một làng cổ nằm trên đồi cao bên bờ Địa Trung Hải, giữa Nice và Monaco. Nếu đi xe lửa từ Nice đến ga Eze-sur-Mer nằm sát bờ biển mất khoảng hai lăm phút, từ đó bắt bus 83 lên đến trung tâm mất thêm nửa giờ hơn và leo lên “làng” mất thêm mười lăm phút.


Buổi sáng trời nắng trong veo. Tối qua về trễ nên sáng lề mề, xuống ga đã gần mười hai giờ. Vắng, không có hàng quán gì, chỉ có tourist office nhưng chủ Nhật nên đóng cửa. Vừa bước ra ngoài xe bus cũng vừa chạy. Mỗi giờ một chuyến. Dù gì cũng phải chờ, xung quanh chẳng có gì nhiều nên bọn tôi băng qua đường định xem căn nhà màu hồng có gì trong đó. Quán ăn. Thế là kéo vào vừa trốn nắng sẵn ăn trưa luôn. Quán ăn được trang trí đơn giản, tông trắng từ tường tới bàn ghế. Khi bọn tôi vào quán đã đông người, chắc là họ cũng như bọn tôi bị trễ xe. Hỏi ra quán đã mở mười mấy năm, chủ người Ý. Ông chủ nấu ăn và hai cô con gái làm các việc còn lại. Tôi kêu một phần cá hồi nướng, ăn với rau cải chua. Cá tươi, rau tươi, nêm vừa ăn, giá rẻ hơn so với Nice và Paris.

Tuyến đường từ ga Eze lên đến trung tâm khá dốc, hẹp với nhiều cua quẹo gắt nên dễ bị say xe. Xưa giờ tôi đã ngồi xe qua nhiều đường núi chẳng hề hấn gì nhưng lần này hơi bị ngầy ngật. Một bên là núi đá, một bên vực nhìn xuống biển xanh ngắt. Đây là điểm du lịch dành cho mùa hè, hoặc trễ lắm là thu, chứ mùa đông sẽ lạnh lẽo âm u không đẹp mà đường đi lại nguy hiểm.



Làng Eze được xây vào thế kỷ 14, khoảng năm 1388, trên đồi cao cách mặt biển hơn 400m. Những vách đá, những con đường hẹp gồ ghề được xây lên như một bức tường thành để bảo vệ Eze khỏi bị tấn công, nhất là khi nơi này khá gần với Nice. Từng thuộc về nhiều nước khác nhau, cho tới ngày nay, mặc dù thuộc Pháp nhưng phần đất này như là nhịp nối giữa Pháp và Monaco, là của chung. *



Và đặc biệt là cả cái làng không có nguồn nước ngầm hay mạch nước nào nên cho tới năm 1930 người dân ở đây vẫn phải “xuống núi” để mang nước lên xài, và họ cũng từng trữ nước mưa để dành mùa khô như nhiều nơi khác. Cũng vì lý do này mà hầu hết các loại cây xanh họ trồng là các loại xương rồng và các loại cây không cần phải tưới nước thường xuyên như bông giấy. Trên đỉnh đồi có khu vườn Jardin trồng trên 400 loại cây họ xương rồng khác nhau. Quanh làng cây ít, không đa dạng nhưng cách họ trồng, cách uốn éo nhìn khéo lắm. Vài bụi xương rồng trước góc nhà, một chậu bông giấy vàng trên góc cao hay cội bông giấy đủ màu xòe trước cửa.. Màu của những chậu hoa treo bên ngoài cửa sổ nổi bật hơn với nền đá nhạt. Trời nắng nhưng vách đá như được làm dịu đi trước sắc hoa. Đang ở xa nhà hàng nghìn cây số mà trong đầu cứ văng vẳng lời hát “hoa vẫn hồng trước sân nhà tôi, chim vẫn hót sau vườn nhà tôi, giọt nắng bâng khuâng, giọt nắng rơi rơi bên thềm”.



Ngoài ra những bậc thang, những cánh cổng vòng cung, những bóng đèn đường, phòng trưng bày tranh, shop bán đồ lưu niệm cũng là lý do để người ta đi chậm lại. Xưa kia dân ở trong những căn nhà kín bưng, nhỏ như những cái hang này. Ánh đèn dạ lên những món đồ thành thứ ánh sáng ấm mà nếu đi nhanh nhìn lướt vào bạn có thể nhằm đó là một bức tranh. Bước đến gần mới ồ, thì ra có cánh cửa.






Nhà thờ Eglise Notre Dame de I’Asomption nằm trên vuông đất cao nhất và cũng là biểu tượng của làng. Phía trước là khoảng sân rộng, rồi đến khu nghĩa trang nho nhỏ. Bọn tôi đã ở lòng vòng khuôn viên trước nhà thờ khá lâu. Hôm đó trời trong, nắng như lụa. Nhìn xa xa không thấy được lằn ranh mây nước. Vốn từ của tôi không đủ để diễn tả hết quang cảnh ở đây nhìn xuống. Và những người nằm xuống trong nghĩa trang kia có lẽ đã góp phần không ít để giữ ngôi làng cổ còn vững chắc, giữ những vẻ đẹp chung quanh và từng ngõ ngách để khi khách bước xuống những bậc thang giữa chừng lại muốn quay ngược trở lên.


Điệu này lần sau quay lại Paris phải kiếm chị chủ nhà trả tiền để ở và được ăn cơm Việt.


(* những số liệu được lấy từ internet và trong làng)




Tuesday, 21 March 2017

Ăn đồ Nhật



Hôm qua đi ăn đồ Nhật làm tôi nhớ lại những ngày ở bên đó. Và nhớ mình đã quên viết vài dòng về những điều là lạ có liên quan tới cái ăn của xứ này.

Xưa giờ người Việt mình vẫn quen câu nói “ở nhà Tây, ăn đồ Tàu, cưới vợ Nhật” nhưng qua thế kỷ 21 rồi vế giữa có phần bớt thịnh hành thì phải. Thời nay thông tin về việc ăn uống điều độ ít dầu ít mỡ, nhiều rau quả, đi gym, yoga…tràn lan từ đâu tới đâu nên con người ta có ý thức hơn về việc ăn uống so với mười lăm hai mươi năm trước. Món Tàu có ngon có bổ đó nhưng ai cũng biết họ luôn xài nhiều dầu mỡ. Những năm gần đây món Nhật, món Việt hay món Hàn càng ngày càng được nhiều người ưa thích có lẽ một phần vì được cho là nhiều dinh dưỡng, tự nhiên như rong biển, đồ tươi sống, ít mỡ…Bằng chứng là số người cao tuổi nhất trên thế giới phần đông sống ở Nhật đó thôi. Còn chuyện họ săn bắt cá voi và cá thu nhiều đến nỗi các tổ chức “xanh” phải báo động  và chuyện tỉ lệ tự tử khá cao ở Nhật thì thôi, tôi không dám bàn tới.

Qua Nhật mới thấy vài điều lạ về cái ăn. Đồng ý là mỗi nước mỗi miền có sắc thái riêng về mọi mặt kể cả chuyện ăn uống nhưng để tận mắt chứng kiến cũng khiến mình ngỡ ngàng.

Nhiều lắm nhưng xin kể ra vài điều, mai mốt có thời gian lại kể tiếp.

Đầu tiên là chuyện mở cửa đóng cửa quán ăn. Những nơi đông khách du lịch và các quán ăn theo dạng ăn nhanh (fast-food) cả Tây lẫn Nhật thì vẫn đèn đuốc sáng choang, chớp chớp cũng nhiều. Nhưng các nhà hàng/quán truyền thống (traditional) Nhật thì dù mở cửa hay đóng cửa nhìn không phân biệt được. Có thể chỉ mình tôi thấy vậy vì vốn chữ Nhật chỉ bằng ba, cám ơn và đếm một hai. Bên ngoài cửa đóng im ỉm, treo hai miếng vải phất phơ trên đó có chữ màu đen, đoán là tên quán. Nhiều khi hai miếng vải được thay bằng thanh gỗ nhỏ khiêm tốn đính vào một góc, nếu đi nhanh chắc chắc sẽ trợt qua. Cứ phải sờ tay vào kéo cửa khắc biết quán hôm nay mở cửa hay đóng.

Sau cánh cửa đầu tiên là chỗ để giày, để dù hay chỉ là khoảng trống. Bước vào cánh cửa thứ hai bạn mới vào trong quán. Có khi bên trong là không gian mở với bàn ghế san sát nhau như những quán bình thường quen thuộc. Có khi bên trong thêm một lần cửa thứ ba vì mỗi bàn được ngăn thành một căn phòng riêng. Tôi ăn ở một quán được trang trí kiểu này ở Toyama. Bạn nghe tiếng nói tiếng hát ở bàn bên cạnh nhưng không thấy mặt họ. Riêng tư vừa đủ. Nhân viên phục vụ cũng nói rất nhẹ nhàng (hiểu nhau hay không lại là chuyện khác), trước khi bước vào phòng luôn gõ cửa. Order đồ ăn cũng qua màn hình máy tính trong phòng nên không có chuyện chạy loạn í ới. Có ăn đổ tháo bừa bãi cũng mình mình biết thôi.

Về cách bày trí trên bàn ăn và cách phục vụ ở Nhật tôi chắc nhiều người cũng đồng ý là khỏi chê. Từ một quán mì đứng, một tiệm bánh nhỏ bên đường, một quầy nhỏ trong chợ.. bạn không bao giờ được phục vụ cái kiểu đem đôi đũa ra đặt cái cạch trước mặt, thảy chén đồ ăn làm giật cả mình, dằn chén nước chấm làm tròng trành rớt ra mấy giọt. Nói thật đến Nhật rồi tôi mới thấy sự kiên nhẫn trong cách giao tiếp, phục vụ của họ. Ngôn ngữ bất đồng gây trở ngại một phần thì đi đến nước nào cũng gặp, cách để vượt qua để hiểu nhau mỗi nơi lại khác. Nhất là vào quán ăn, vừa bước vào hỏi còn bàn trống cho một/hai người không đã bắt đầu thấy sự bối rối trên gương mặt họ. Sau đó là chuyện order, uống gì, ăn gì phải trao đổi qua màn hình nhờ anh google translate thường xuyên. Nhăn trán gãi đầu mà vẫn tươi cười. Khó qúa nhiều khi anh này lại quay ra kêu một anh phục vụ rành tiếng Anh hơn vào.

Đôi khi cảm giác hồi hộp chờ xem món ăn được đem ra có giống như món mình chọn hay tưởng tượng không cũng là một trải nghiệm đáng nhớ. Có khi bị giật mình nhưng may là chưa có điều gì đáng tiếc xảy ra, ý là ăn được tất. Chắc do tôi dễ nuôi từ nhỏ. Hay là đắt quá không dám bỏ. Nói đùa chứ chưa gặp món nào tệ đến nỗi bỏ lại.

Còn cách gói ghém và trưng bày thì cũng thuộc hàng tỉ mỉ chưa từng thấy qua, nhất là đồ ngọt. Có khi bóc ba bốn lớp đói run cả tay. Tôi nghĩ đồ ăn bánh trái của họ đắt vì một phần trong đó là phí “trang điểm”, đôi khi cầu kỳ quá đáng. Có lần tôi mua một phần cơm đem theo lên xe lửa ăn mà phải mất hơn mười phút mới mở ra được. Bốn cái nẹp tre buộc dây cẩn thận bên ngoài hai cái đĩa tre tròn chức cơm bên trong. Sau khi tháo dây, tháo nẹp mở ra thì bên trong có thêm lớp lá xếp vòng quanh miếng cơm đều trang. Và trên mặt cơm là từng miếng cá được xếp ngay hàng thẳng lối. Thắc mắc thời gian họ gói một hộp cơm như vậy lâu gấp mấy lần thời gian tôi mở ra.

Một thí dụ khác là bánh ngọt trong các siêu thị hay các quầy ở ga. Phần nhiều từng cái bánh được gói riêng, sau đó được gói chung vào một cái bao khác rồi đặt vào chiếc hộp xinh xắn đã được lót một lớp giấy hoa bên dưới. Bao nhiêu công nên nhiều khi nhìn hộp bánh rồi nhìn bảng giá bên cạnh muốn bật ngửa. Bởi vậy vào siêu thị nhìn cho đã mắt rồi sau đó tôi qua con phố nhỏ bên cạnh hay tình cờ trên đường thấy cái tiệm người ta rồng rắn xếp hàng lại sà vào, thấy bánh cũng y vậy lại vừa ra lò. Giá cả đôi khi chênh nhiều đôi khi chỉ tí đỉnh nhưng ăn cái bánh từ bao giấy mà dầu với đường thấm ra cả tay lại thấy ngon và khỏi phải tiếc hùi hụi cái công cắt gói trang điểm.
Có lẽ do mình lớn lên từ những nơi như vậy, chưa quen mà chưa biết khi nào mới quen kiểu “fine dining” ăn đẹp mà chẳng no.
Có những món mà đến nơi nhất định phải ăn thử vì chỉ được bán ở nơi đó. Như món bánh cracker, giòn thơm bùi bùi được làm từ horse chesnut chỉ có ở Takayama. Như cheese tart Pablo ở Namba, món này cũng ngon đặc biệt, chớ bỏ qua.
Và nếu sữa có thể để lên mốc trắng mốc xanh thành các loại cheese khác nhau thì bây giờ đến lượt thịt. Đã từng xem một phim tài liệu của Anh về cách họ để thịt lên mốc ở một nhiệt độ, thời gian, đột ẩm nhất định để cho ra mùi vị khác lạ mà ăn vào vẫn an toàn. Chính mắt nhìn thấy ở Osaka mới tin. Dĩ nhiên phải cắt bỏ phần mốc rồi trước rồi đem chế biến. Chưa thử qua, chưa dám mạo hiểm.
Lòng vòng chuyện lấp đầy bao tử, chắc nói đến mốt chưa hết. Thôi tạm chốt lại “ở nhà Tây, ăn đồ tươi bổ khỏe, cưới ai tùy…duyên” .